Rate this post

Nhìn vào thế ứng xử trước thiên nhiên, chúng ta nhận ra văn hóa dân gian Nam bộ khi đặt trong diện mạo văn hóa dân gian cả nước có những nét khác biệt. Sự tác động của thiên nhiên diễn ra từ đặc điểm thể loại cho tới việc hình thành một thiên nhiên nghệ thuật với những đặc trưng riêng.

Bạn đang xem: Văn học dân gian về tình yêu thiên nhiên

Trước tiên, phải kể đến đặc trưng thể loại. Thiên nhiên vùng châu thổ với những nét khu biệt đã khiến cho bức tranh thể loại của văn học dân gian ở Nam bộ có những nét khác lạ. Mỗi thể loại của văn học gian dân Nam bộ, nhìn chung, đều có nét thay đổi do sự tác động của thiên nhiên.

Với loại thể ca dao – dân ca, sông nước Nam bộ vừa là môi trường diễn xướng, vừa là nhân tố tạo ra nhịp điệu, lề lối diễn xướng, nhất là các điệu hò sông nước: hò chèo ghe, hò Đồng Tháp,… Với truyện cổ, hệ thống truyện dân gian Nam bộ thường hướng đến thiên nhiên nhiều hơn xã hội.

Loại truyện tích địa danh là loại truyện dùng để giải thích những địa danh thời khai phá và thường có số lượng lớn: Địa danh Cao Lãnh, Sự tích sông Nhà Bè, Cù lao Trâu… Đó có thể là những loại cây gần gũi, thân thiết với người dân sở tại được phản ánh bằng cái nhìn suy nguyên tạo nên những truyện tích hấp dẫn: Sự tích trái thơm, Sự tích cây đước… Tất cả dường như là đối tượng thẩm mỹ của người Việt khi họ sáng tạo ra truyện dân gian, thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa thiên nhiên và con người.

Với truyện trạng, sự tác động của thiên nhiên cũng khá rõ nét. Nếu hiện thực được miêu tả trong truyện trạng của Bắc bộ, Trung bộ là hiện thực xã hội, những mâu thuẫn, xung đột gay gắt giữa các thế lực với các trạng qua một loạt hệ thống truyện như: Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Xiển Bột,… thì hiện thực ấy là rất mờ trong hệ thống truyện Đồng bằng sông Cửu Long. Truyện trạng ở đồng bằng Bắc bộ ít chịu lực hút của thiên nhiên.

Còn đến với truyện Ông Ó, Bảy Lẹ vùng Bến Tre, chúng ta lại thấy những chi tiết phóng đại quá cỡ các thành tố tự nhiên. Chẳng hạn: Con cọp bị đá ỉa ra một loạt trái dừa, rồi nơi đó bỗng mọc lên một hàng dừa thẳng tắp; những viên đá được nhặt từ những buổi đi cày, sau người ta phát hiện ra đó lại những thỏi vàng rực ánh… Có thể thấy rõ nhất là hệ thống truyện Bác Ba Phi. Một vùng đất mới được bàn tay con người khai khẩn, phát phá, còn ẩn nhiều của nổi của chìm, tài nguyên đa dạng là cơ sở cho hệ thống truyện dân gian Nam bộ sinh thành và phát triển.

Với ca dao, thiên nhiên Nam bộ vừa là cội nguồn cảm xúc của con người, vừa là nơi để họ giãi bày tâm sự:

Chèo ghe đi bán cá vồNước chảy ồ ồ chẳng có ai mua.

Hoặc:

Anh gánh nước dưới đồng lên đây tưới cộiTưới cội rồi gặp hội mưa dôngBởi anh sa cơ nên em đã có chồngMời anh uống chén rượu nồng giải khuây.

Chủ đề tiêu biểu của ca dao Nam bộ, về cơ bản là nói về quê hương, đất nước, lao động sản xuất, đời sống tình cảm, phong tục tập quán và tâm lý xã hội. Ở mỗi chủ đề, chúng ta thấy đều xuất hiện hình ảnh thiên nhiên, hoặc ít hoặc nhiều. Hình ảnh thiên nhiên có khi được trực tiếp miêu tả như là đối tượng phản ánh:

Thấy dừa thì nhớ Bến TreThấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười.Có khi được dùng để bộc bạch, thổ lộ tình cảm:Gió thổi hiu hiu lục bình trôi líu ríuAnh đừng bận bịu, bớ điệu chung tìnhNhạn bay cao khó bắn, cá ở ao huỳnh khó câu…

Với vè, những bài miêu tả trực tiếp thiên nhiên có một số lượng đáng kể. Đó là những bài: “Vè các thứ lúa”, “Vè trái cây”, “Vè các loại chim”, “Vè các thứ cá”,… chúng ta có thể tham khảo đoạn trích sau để thấy được sự phong phú của thiên nhiên Nam bộ:

… Tha rác vô nhà, se sẻ, bồ câuThứ đậu lưng trâu, sáo sành, sáo nghệLặng không biết kể, còng cọc chằng bèCon mắt se se, cúm núm, diệc, còĂn uống hồ đồ, gà đãi kên kênĐáp xuống bay lên, con diều, thầy bóiCái mồng đỏ chói cao cát hồng hoàngĐêm khuya canh tàn, chim ục, chim heo.(Vè các loại chim).

Tựu trung, thiên nhiên đã khiến cho bức tranh thể loại của nghệ thuật ngữ văn dân gian có những đổi thay, có những nét khác lạ. Dù rằng, những nét riêng ấy là do nhiều nhân tố tạo ra nhưng không thể không thừa nhận sự tác động của thiên nhiên.

Mặt khác, từ thiên nhiên ngoài đời đến thiên nhiên trong các tác phẩm folklore là một quá trình sáng tạo của con người. Thiên nhiên trong folklore là thiên nhiên nghệ thuật được tạo ra từ thái độ thẩm mĩ của người nghệ sĩ dân gian. Thiên nhiên trong vốn văn hóa dân gian Nam bộ cũng không nằm ngoài quy luật sáng tạo này. Thiên nhiên nghệ thuật trong các tác phẩm folklore ở Nam bộ có những nét riêng khi đặt nó cùng nằm với thiên nhiên nghệ thuật trong các tác phẩm folklore của Đồng bằng sông Hồng.

Rõ ràng, dựa vào những nét riêng của làng Nam bộ, thiên nhiên hiện ra trong các tác phẩm folklore ở mọi thể loại là một thiên nhiên của thời khai phá. Ở đây, có thể thấy thiên nhiên nghệ thuật được con người tạo ra từ cả hai góc độ tâm lý: một, kinh sợ trước thiên nhiên hoang vu; hai, tự tin khẳng định mình có thể làm chủ được nó.

Với thái độ tự tin, con người có thể biến cải, thích ứng với thiên nhiên, đấy chính là cơ sở vững chắc giúp con người trụ lại trên mảnh đất này. Ý nghĩa bề sâu trong những bài ca dao nói về đặc sản của từng vùng đất, cả vùng Nam bộ là niềm tin, sự tự hào của con người có thể làm chủ được thiên nhiên ấy. Hệ thống truyện dân gian về những con người có thể đánh được cọp (Giết cọp ở Giồng Găng), những bà mụ thuần hóa tính cọp (Bà mụ cọp), chinh phục được những loài vật (nhóm truyện Bác Ba Phi) đều được xây dựng từ thái độ tâm lý này. Dường như sự khác biệt trong thái độ với thiên nhiên của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long và người dân nơi Đồng bằng sông Hồng, chính là khía cạnh đó.

Thiên nhiên nghệ thuật trong folklore của Đồng bằng sông Hồng thường có đặc điểm kỳ vĩ như gợi ra sự khác biệt:

Ai đưa em đến chốn nàyBên kia là núi, bên này là sông

Trong khi đó, thiên nhiên nghệ thuật trong folklore Nam bộ lại không có những đặc điểm như vừa nêu. Ở đây, một thiên nhiên hoang vắng đem lại cho con người sự choáng ngợp, nhưng họ vẫn tin sẽ làm chủ được. Đó là thế giới của những loài vật không dễ gì gặp lại ở Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay như cọp trên bờ, cá sấu dưới sông, ma trong rừng. Nói về các loài vật ấy, người ta thường dẫn câu tục ngữ:

Xuống sông hốt trứng sấu, lên bờ xỉa răng cọp

Hoặc những truyện trạng nói về cua đinh, rùa, chim, chuột, cá sấu,… có khá nhiều trong kho tàng folklore. Đến với những tác phẩm ấy, chúng ta dễ có cảm giác như gặp, như đang thực sự sống lại thời khai phá hết sức gian khổ của những thế hệ cha ông.

Như đã nhắc ở phần trên, thiên nhiên nghệ thuật trong folklore Nam bộ không gắn bó với không gian làng quê. Có thể nói, đây là nét khu biệt giữa thiên nhiên nghệ thuật trong folklore Nam bộ, và thiên nhiên nghệ thuật trong folklore Bắc bộ. Đến với thiên nhiên nghệ thuật ấy, tầm mắt của con người không bị giới hạn, bó hẹp bởi những lũy tre làng. Nhìn chung, các tác phẩm folklore đều vẻ ra một chân trời khoáng đạt, gắn với những vùng, những tỉnh rộng lớn. Truyện dân gian Nam bộ khắc họa rõ nét khung cảnh rộng lớn bao la của miệt vườn, của môi trường sông nước. Nhóm truyện liên quan đến địa danh, sản vật địa phương sẽ cho ta thấy những nét ấy. Bên cạnh truyện dân gian, thì lời trong ca dao – dân ca cũng thể hiện được điều đó:

Ruộng đồng mặc sức chim bayBiển hồ lai láng mặc tình cá đua

Đối với văn học dân gian vùng Đồng bằng sông Cửu Long, khi tái tạo hình ảnh đồng ruộng trong thiên nhiên nghệ thuật, người ta hay tái tạo hình ảnh “gió” để thể hiện một khoảng không gian đặc biệt. Các tính từ chỉ trạng thái của gió như gợi ra trước mắt người đọc một khung cảnh thoáng đạt:

– Gió thổi rao rao lòng anh đau dạ anh đớn– Gió hiu hiu chín chiều ruột thắt

Ở đây, người ta có thể cho đó là sự sáng tạo từ, nhưng sáng tạo ấy gắn liền với tư duy, nó không thể nằm ngoài quan hệ giữa con người với thiên nhiên được. Thái độ thẩm mỹ con người trước thiên nhiên đã tái tạo một thiên nhiên rộng rãi, thông thoáng. Có thể thấy, chính thái độ thẩm mĩ ấy đã quyết định sự lựa chọn và sáng tạo từ ngữ kia.

Cái mảng rõ nét đặc trưng trong thiên nhiên nghệ thuật trong folklore Nam bộ là thiên nhiên ấy gắn bó mật thiết với môi trường sông nước. Tác động của cảnh quan thiên nhiên tới việc tạo thành đặc điểm này của thiên nhiên nghệ thuật là rõ nhất, và mạnh mẽ nhất. Trước hết là hệ thống hình ảnh của thiên nhiên nghệ thuật này, đấy là hệ thống mang rõ sắc thái của vùng sông nước như: bãi, doi, vịnh, cù lao, kênh, rạch,… xuất hiện khá nhiều lần trong tác phẩm. Các thành tố ngôn ngữ ấy có thể xuất hiện trong những truyện kể dân gian mà ngay cả ở nhan đề câu chuyện cũng bắt gặp, chẳng hạn như: Sự tích cù lao ông Hổ, Sự tích rạch bà Hét, Sự tích bãi ông Đụng, hoặc như trong ca dao – dân ca, chúng ta vẫn thường đọc được:

Bao phen quạ nói với diềuCù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm.

Bên cạnh các thành tố ngôn ngữ chỉ sông nước, là những vật dụng liên quan đến sông nước của con người. Chiếc ghe, chiếc xuồng là những vật gần gũi, thân thiết nhất. Nó là phương tiện chính quyết định đời sống cũng như hoạt động sinh hoạt của con người giữa dòng nước mà sông ngòi, kinh rạch dày đặc. Những từ ngữ chỉ sự vật trong ca dao Nam bộ, vừa có sắc thái địa phương vừa thể hiện chiều sâu nhận thức về thiên nhiên và con người ở một vùng đất lắm sông, nhiều kênh rạch. Nào là ghe ngo, vỏ lãi, tắc rán, xuồng ba lá, ghe lườn, ghe mỏ vạch, ghe cui, ghe bầu,…

Xem thêm :   Update Hướng Dẫn Xin Visa Du Lịch Nhật Bản 2022 : Có Khó Không? Cần

Đặc biệt, cần chú ý đến hệ thống từ ngữ có liên quan đến sông nước trong ca dao. Nó mang nét sắc thái cảnh quan thiên nhiên khó có ở ca dao thuộc vùng nào trên cả nước. Ngay các loại con nước, trạng thái của sông nước đều được con người cảm nhận một cách chân xác, từ đó đặt tên thật chính xác: nước lớn, nước rong, nước ròng, nước rặc, nước kém, nước nhửng…

Mặc khác, thiên nhiên của môi trường sông nước còn là nơi ký thác, nơi giãi bày tâm sự của nam nữ khi họ yêu thương nhau. Những thành tố của môi trường sông nước còn là chỗ dựa, được coi là nơi minh chứng để các chàng trai, cô gái hứa hẹn, thề thốt:

Bờ sông khúc lở, khúc bồiKiếm nơi vắng vẻ trao lời với anh

Như thế, chúng ta thấy thiên nhiên nghệ thuật trong văn hóa dân gian của người Việt ở Nam bộ mang đậm dấu vết của sông nước: từ hệ thống hình ảnh, hệ thống từ ngữ… đều chứng tỏ một cảm quan thẩm mĩ của con người trước thiên nhiên nơi đây.

Nói đến tác động của thiên nhiên lên văn hóa dân gian Nam bộ, người ta cũng thường xét đến sự tác động của sản vật thiên nhiên. Ca dao về tình yêu lứa đôi ở Nam bộ, các hình ảnh thiên nhiên thường xuyên xuất hiện. Điều đáng nói ở đây là những sản vật thiên nhiên ấy mang đậm phong cách địa phương, chẳng hạn có thể kể như: cá chạch, cá lia thia, cá bã trầu, cá sặc, cá rô mề…

Thân em như cá rô mềLao xao buổi chợ biết về tay ai

Hình ảnh thiên nhiên nghĩa là mang dáng dấp của vùng đất này. Nếu cây đa là nơi trai thanh gái tú ở Đồng bằng Bắc bộ thường chọn làm chỗ hẹn hò, trong đó mô típ “cây đa – giếng nước – sân đình” rất đỗi quen thuộc, thì đối với ca dao Đồng bằng Nam bộ, cây bần là loại quen thuộc hơn cả:

Bần gie đóm đậu sáng ngời.Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên

Hình ảnh “cây bần” đem lại một hình ảnh mới cho ca dao trữ tình Nam bộ. Các cô gái trên Đồng bằng sông Hồng than thân, trách phận hay mượn hình ảnh “tấm lụa đào”, “hạt mưa sa” bộc bạch:

Thân em như tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay ai

Các cô gái Nam bộ thì khác, vì cây bần – như trên đã nói – rất thân thuộc với con người nơi đây nên việc cho mượn “trái bần” để nói về thân phận nổi trôi, vô định của mình cũng là điều dễ hiểu:

Thân em như trái bần trôi.Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

Ngoài cây bần, các loại cây khác như: cây ô rô, cây mù u, cây trâm bầu… trở thành những hình ảnh nghệ thuật của bức tranh thiên nhiên lắm sắc màu này. Bức tranh lắm màu nhiều sắc ấy còn gặp ở truyện trạng, nhất là truyện trạng Ba Phi. Đó là hình ảnh chiếc tàu rùa (chiếc tàu chạy bằng sức kéo của hàng trăm con rùa), đó là cá trê ở lung tràm (mỗi lần kéo lên là cả tạ),…

Chủ thể đích thực của những sáng tác dân gian trong kho tàng văn học dân gian Nam bộ là những người nông dân. Trên nền chung, họ vẫn mang những đặc điểm của người nông dân trong quan hệ với thiên nhiên. Có điều, cảnh quan thiên nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long có những nét riêng biệt so với thiên nhiên ở các vùng khác trên đất nước ta. Tác động của thiên nhiên, sự thay đổi cảnh quan thẩm mỹ sẽ dẫn tới một thiên nhiên nghệ thuật trong văn hóa dân gian có những đường nét mới mẻ, khác lạ.

*

*
*
*
*
*

Cái đẹp của thiên nhiên vàphong cảnh trong ca dao truyền thống

TS.Nguyễn Thị Kim Ngân

(Bài đã đăng trên Tạp chí VHNT – 2014)

Tómtắt:

Tình yêu thiên nhiên, trong đó có tình yêucái đẹp của thiên nhiên, phong cảnh là một nét nổi bật trong tính cách người Việt.Qua ca dao chúng ta thấy đối với người dân quê, cảnh đẹp là cảnh có núi có sông,có sơn có thủy , sơn thủy hài hòa, núi sông uốn lượn mềm mại, cảnh vật luânchuyển, hoạt động, tràn đầy sinh khí và sức sống nhưng cũng đầy tình tứ, gắn bótương thông với con người. Cảnh đẹp ấy bên cạnh hình dáng uyển chuyển và tươi tắn,hữu tình, còn là tượng trưng của ấm no, hạnh phúc. Trong thẩm mỹ của người dânquê, cái đẹp và cái có ích không loại bỏ nhau mà gắn chặt với nhau.

Rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên là một bộphận trong kinh nghiệm thẩm mỹ của con người. Tìm hiểu những rung động ấy quaca dao truyền thống cũng là một cách tiếp cận bản sắc văn hóa của người Việt.

Abstract:

The
Beauty of Nature and Landscape in Traditional Ca Dao (folksongs or Popular Songs
)

The love for Nature, especially the love for the beauty of natureis an outstanding characteristic of the Vietnamese. We can find out the beauty oflandscape that the rural peopleappreciate, reflected in Ca Dao, is thescenery with mountains and rivers, standing together harmoniously picturesque , rivers meandering subtly aroundmountains, natural scenery keepingoperation alternative , full of energy and vitality, but connectively agreeable with the humans. It is the natural landscape that is not only a description of images flexible,fresh and lovely, but also asymbol of anabundance of a happy life. In thelight of rural people’s aesthetics , thebeauty and the usefulness areimpossible to exclude but to closely bind to each other .

Throbbing with emotion before the beauty of
Nature is a part of experience ofhuman aesthetics. Striving tohave an understanding of the throbbingpulse through traditional Ca Daois a way we can access the Viet ‘s cultural identity .

Mỗi dântộc tồn tại đều có diện mạo riêng của mình. Diện mạo ấy thường bộc lộ rõ rệt nhấttrong văn hóa, tức là trong cách sinh hoạt, cách ứng xử của con người trongquan hệ với chính mình, với tự nhiên và với xã hội. “Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội,trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình” (Hà Văn Tấn) (1). Trong diệnmạo ấy có những nét độc đáo, chỉ riêng dân tộc có, nhưng cũng có những nét giốnghoặc gần gũi với các dân tộc khác. Nghiên cứu diện mạo hay bản sắc văn hóa dântộc trước hết không phải đi tìm cho được nét khác biệt của dân tộc mình với dântộc khác, vì điều này đòi hỏi sự hiểu biết rất lớn, mà chính là nhận diện chođược chân dung văn hóa của dân tộc mình, xác định cho được những nét nổi bật đãtạo nên diện mạo văn hóa của dân tộc.

Bản sắcvăn hóa của dân tộc được cấu thành từ nhiều yếu tố, trong đó có thị hiếu thẩm mỹ,quan niệm về cái đẹp. Sáng tác dân gian là một căn cứ đáng tin cậy, dựa vào đócó thể nhận ra phần nào đặc điểm ý thức thẩm mỹ của người Việt. Tìm hiểu cái đẹptrong ca dao là một cách tiếp cận, một con đường nhằm đến mục tiêu nhận thức đầyđủ hơn tính cách của người Việt và xa hơn là diện mạo của văn hóa dân tộc.

Trongca dao truyền thống, chúng ta bắt gặp rất nhiều câu có chữ“Đẹp”:

Mặn nồng một vẻ thiên nhiên

Đất ta cảnh đẹp càng nhìn càng say. (2)

* *

*

Gia Lâm có đất Cổ Bi

Muôn đời cảnh đẹp còn ghi rành rành.

* *

*

Tương truyền đây đất đế kinh

Bao nhiêu cảnh đẹp lừng danh trong ngoài.

* *

*

Chẳng vui cũng thể hội Thầy

Chẳng đẹp cũng thể Hồ Tây xứ Đoài.

* *

*

Giao Tự lắm bãi nhiều doi

Lắm con gái đẹp nhiều nơi phải lòng.

* *

*

Nhất đẹp con gái Bù Nâu

Cứng cỏi Đanh Xá, cơ cầu Quyển Sơn.

* *

*

Gái Dự Quần đẹp như hoa lí

Trai thanh tân có ý mà theo.

Nếu coi chữ “Đẹp” đồng nghĩa với chữ“Xinh” thì số lượng những câuca dao dạng này còn tăng lên rất lớn:

Trúc xinh trúc mọc đầu đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh.

* *

*

Nhất quế nhị lan

Nhất xinh, nhất lịch khôn ngoan trămchiều.

* *

*

Gặp em thấy khéo miệng cười

Thấy xinh con mắt, thấy tươi má hồng.

Có thể nói cái Đẹp là một cảm hứng lớntrong thơ ca trữ tình dân gian người Việt. Cuộc sống lao động cực nhọc, vất vảkhông làm thui chột cảm xúc thẩm mỹ của người dân quê, không làm mất đi nhữngrung động về vẻ đẹp của cảnh vật và con người bắt gặp hằng ngày. Rung động ấycó khi bột phát thành tiếng kêu vui:

Do Xuyên đẹp lắm ai ơi

Có về chỗ đó cho tôi về cùng.

Nhưng nhiều khi chỉ thể hiện trong cái nhìn trìu mến, yêuthương với cảnhvật:

Làng tôi có lũy tre xanh

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.

* *

*

Nhác trông phong cảnh vui thay

Báo Bồng có phải chốn này hay không.

Trong hoàn cảnh đất nước nông nghiệplạc hậu, thiên tai đe dọa, làm không đủ ăn, đói no thất thường, đời sống laođộng một nắng hai sương, giữ cho được cái nhìn yêu đời và những rung động vô tưnhư vậy quả thật đáng quý. Đó phải chăng cũng là một nét tính cách của người Việt?
Phải chăng tình yêu cái đẹp ấy là một trong những cội nguồn của sự mến mộvăn chương của người Việt, nhất là đối với thơ ca, sự mến mộ mà Nguyễn Bỉnh
Khiêm thì gọi là “bệnh yêu thơ” không chữa được, còn Ngô
Thì Sĩ thì gọi là bệnh “nghiện thơ” và chính điều đó đã làmcho nước ta thành“một nước thơ” như lời Ngô Thì Nhậm nói khi bànthơ với Phan HuyÍch (3). Phải chăng tình yêu cái đẹp ấy cókhi đã dẫn đến việc tạo ra nét “văn chương phù hoa” trong tính cách người Việt,như nhận xét của Đào Duy Anh?(4).

Trong ca dao, những cảm xúc về cái đẹpbắt nguồn trước hết từ bức tranh thiên nhiên và phong cảnh. Có rất nhiều câuchữ “Đẹp” đi liền với “Cảnh”:

Vọng Phu cảnh đẹp núi Nhồi

Có người chinh phụ phương trời đăm đăm.

* *

*

Đường nào vui bằng đường Thượng Tứ

Cảnhđẹp bằng núi Ngự, sông
Hương.

Cảnh ở đây có thể là cảnh thiên nhiênnhư hòn Vọng Phu, núi Nhồi, như sông Hương núi Ngự, nhưng cũng có thể là cánhđồng, làng quê, bến nước, con đò, tức là cảnh ở đó tự nhiên và con người gắnvới nhau thân thiết, gần gũi:

Thanh Trì cảnh đẹp người đông

Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh.

* *

*

Đại Hoàng phong cảnh hữu tình

Của nhiều, đất rộng, gái xinh trai tài.

Cảnh hay phong cảnh đi vào ca dao phổbiến nhất trong bốn trường hợp. Thứ nhất là trong những câu mở đầu (5):

Nước sông Gianh vừa trong vừa mát

Truông Quảng Bình nhỏ cát dễ đi.

Dang tay ngứt đọt từ bi

Cho lòng bên nớ bên ni kết nguyền.

hay:

Trăng lên đỉnh núi trăng mờ

Mình yêu ta thực hay là ghét chơi ?

Xem thêm :   Những bức tranh phong cảnh học sinh vẽ tranh phong cảnh đẹp nhất 2022

Thứ hai là trong những câu kể chuyện tâm tình, ở đó cảnh là môi trường gặp gỡ, là nơi tình tự, chờ đợi, nhớ nhung, nơidiễn ra câu chuyện yêu đương:

Nước sông Tô vừa trong vừa mát

Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh

Dừng chèo muốn tỏ tâm tình

Sông bao nhiêu nước thương mình bấynhiêu

* *

*

Đêm khuya trăng lệch trời trong

Muốn trao duyên với bạn sợ lòng mẹ cha

Thứ ba, trong những câu ca giới thiệu về quêhương xứ sở:

Ai về đến huyện Đông Anh

Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục
Vương…

* *

*

Dạo xem phong cảnh trời mây

Lô, Đà, Tam Đảo cũng quay đầu về.

Thứ tư, cảnh như đối tượng của sự thưởng thứcthẩm mỹ:

Gió đưa, đưa lướt chòm thông

Gió bay thông cỗi như lồng bóng ngân

Suối trong leo lẻo trên ngàn

Kìa con chim Phượng soi làm suối trong.

hay:

Ai đi qua phố khoa Trường

Dừng chân ngắm cảnh núi rừng xanh xanh

Dòng sông uốn khúc chảy quanh

Trên đường cái lớn bộ hành ngược xuôi.

Rõ ràng trong trường hợp thứ tư này,thiên nhiên và cảnh vật hiện ra không phải như những đối tượng sở chỉ (reference), ám chỉ hay đưa đẩy, mà làđối tượng của sự chiêm ngưỡng thuần túy. Điều này rất đáng chú ý, nó chứng tỏca dao truyền thống không chỉ chứa đựng tâm tư và kinh nghiệm sống ủa người dânquê mà còn thể hiện những rung động thẩm mỹ, tình yêu của họ với cái đẹp củathiên nhiên và cảnh vật xung quanh.

Đặc điểm cơ bản của cảm xúc thẩm mỹ làtính vô tư. Đứng trước một cảnh vật người ta có thể có nhiều cảm xúc khác nhau,nhưng chỉ khi nào cảm xúc thoát khỏi những quan tâm về ý nghĩa hay giá trị thựctế của đối tượng và chỉ tập trung vào hình dáng, màu sắc và sự chuyển động củanó thì cảm xúc đó mới được coi là cảm xúc thẩm mỹ. Trong ca dao chúng ta bắtgặp rất nhiều lần những rung động thẩm mỹ như vậy:

Chiều chiều ra đứng gốc cây

Trong chim bay liệng, trông mây ngangtrời

Trông xa xa tít xa vời

Những non cùng nước, những đồi cùng cây.

* *

*

Trời xanh dưới nước cũng xanh

Trên non gió thổi dưới gành sóng xao.

Có điều cần lưu ý là trong ca dao nhưđã nói ở trên, đối tượng gây nên cảm xúc thẩm mỹ không chì là thiên nhiên mànhiều khi còn là những cảnh vật do con người tạo nên, gắn bó với đời sống củahọ:

Mênh mông biển lúa xanh rờn

Tháp cao sừng sững trăng vờn bóng cau

Một vùng phong cảnh trước sau

Bức tranh thiên cổ đượm màu giang san.

* *

*

Thanh Trì cảnh đẹp người đông

Có cây sáo trúc bên đồnglúa xanh.

Điều này hoàn toàn dễ hiểu. Cuộc sốngcủa người nông dânvốn gắn chặt với thiên nhiên, vì vậy vẻ đẹp củathiên nhiên cũng gắn chặt với sinh hoạt của con người. Cái đẹp của phong cảnh có khi làvẻ đẹp của núi, sông, suối khe thuần túy, nhưng nhiều khi là cánh đồng, là bếnsông, là con đường người qua lại đông vui. Trong ý thức của người nông dân, cảmxúc thẩm mỹ không phải lúc nào cũng tồn tại độc lập mà thường pha trộn, xen lẫnvới những cảm xúc khác, nhất là cảm xúc về cái có ích. Điều này phản ánh rất rõtrong những câu ca dao có chữ “Đẹp” liên quan đến phong cảnh:

Đường về Đông Việt loanh quanh

Đồng xanh làng đẹp như tranh họa đồ.

Vẻ đẹp của quê hương ở đây gắn với cánhđồng lúa xanh hứa hẹn một mùa gặt no ấm, tức là gắn với cảm giác về sự sungtúc, với cái có ích.

Sự pha trộn giữa cảm xúc thẩm mỹ và cảmgiác về cái có lợi bộc lộ đặc biệt rõ rệt trong những câu thơ về con sông ởlàng quê. Một mặt người dân quê rất yêu mến vẻ đẹp của dòng sông với hình dánguốn cong mềm mại của nó:

Làng tôi có lũy tre xanh

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng…

Hỡi cô thắt bao lưng xanh

Có về Vạn Phúc với anh thì về

Vạn Phúc có cội bờ đề

Có sông uốn khúc có nghề quay tơ.

Trong thị hiếu thẩm mỹ của người Việt,đường cong uyển chuyển này in dấu rất đậm nét:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ…

Sông Tô một dải lượn vòng

Ấy nơi liệt nữ anh hùng giáng sinh

Sông Hồng uốn khúc chảy quanh

Giai nhân tài tử lừng danh trong ngoài.

Mặt khác, vẻ đẹp của con sông có đượckhông chỉ do hình dáng của nó mà còn nhờ chỗ nó có giá trị “tắm mát”.

Làng Chợ đẹp lắm ai ơi

Sông sâu tắm mát trên đồi nương ngô

Vùng Bưởi có lịch, có lề

sông tắm mát có nghề seo can

Cô kia thắt bao lưng xanh

Có về Yên Mĩ với anh thì về

Yên Mĩ anh có nhiều tre

sông tắm mát có nghề trồng ngô.

Long tự hào của người dân quê về vẻ đẹp của con sông với những đường nét uốn lượn tự nhiên cùng với công dụngtắm mát của nó cũng tương tự như lời khen ngợi cô thôn nữ vừa đẹp người vừa đẹpnết:

Thấy em đẹp nói đẹp cười

Đẹp người đẹp nết, lại tươi răng vàng

Nhất đẹp là gái làng Cầu

Khéo ăn khéo mặc, khéo hầu mẹ cha.

Thẩm mỹ của người Việt xưa là vậy. Cáiđẹp vừa có tính độc lập nhưng cũng vừa gắn với cái Lợi, cái Đức. Con sông uốnkhúc cũng đẹp, sông tắm mát cũng đẹp, cả hai đều đẹp. Người có làn da trắngcũng đẹp, người nết na cũng đẹp, cả hai đều được khen là Đẹp. Cái đẹp vừa cócái riêng (như là phẩm chất về hình thức) vừa có cái chung (như tổng hợp của cảhình thức và ý nghĩa) – đó là quan niệm về cái đẹp rất phổ biến trong ca daotruyền thống và có lẽ cũng cả trong dân gian nói chung.

Bức tranh thiên nhiên và phong cảnhlàng quê là cội nguồn của những rung động thẩm mỹ trong ca dao. Khảo sát sự lắpđi lắp lại của những cảnh vật trực tiếp khơi dậy những cảm xúc ấy, chúng tathấy có những điểm đáng chú ý sau đây.

Vẻ đẹp của cảnh núi – sông. Trong ca dao, “nước”, “non”, “sông”, “núi” là những từ có tần số xuất hiện rấtcao. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì nước ta có địa hình phức tạp, nhiều núi,nhiều sông, núi và sông gắn chặt với đời sống con người, nên núi sông đi vào cadao nhiều cũng không có gì đặc biệt. Đáng chú ý là ở chỗ, trong nhiều câu cadao, núi – sông thường đi liền với nhau, tạo nên một phong cảnh gợi cảm xúcthẩm mỹ:

Sông Tuần một dãy nông sờ

Hàm Rồng một dãy lờ mờ núi cao

Vui thay núi thẳm nông sâu

Thuyền đi hai dãy như sao hôm rằm

* *

*

Đường mô vui bằng đường Thượng Tứ

Cảnh mô đẹp bằng cảnh núiNgự, sôngHương

Có rất nhiềucâu ca dao trong đó núi – sông đi với nhau tạo nên một hình ảnh thống nhất về vẻđẹp của thiên nhiên:

Núi Truồi ai đắp mà cao

Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu.

* *

*

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa núi Tam Đảo, kìa sông Tam
Kì.

Dường như trong cảm thức dân gian, núichỉ đẹp khi có sông và sông chỉ đẹp khi đi với núi. Sông với núi kết hợp thànhmột đôi SƠN THỦY như một nguồn cảm hứng của tình yêu hay của lòng tự hào về quêhương:

Sáng trăng dạo cẳng đi chơi

Dạo miền sơn thủy là nơi hữu tình.

* *

*

Nhìn xem phong cảnh làng ta

sơn thủy bao la hữu tình.

Từ cặp đôi núi sông, sơn thủy này đãhình thành nên biểu tượng nước non phổ biến trong ca dao:

Non kia ai đắp mà cao

Sông kia ai bới ai đào mà sâu

Nước non là nước non trời

Ai phân được nước ai dời được non.

Nước biếc non xanh trở thành dấu hiệu của vẻ đẹp phongcảnh, thành niềm tự hào về nét đẹp của mỗi vùng quê:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

* *

*

Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh

Đền Hùng Phú Thọ nước biếc non xanh hữu tình.

Vì sao trong ca dao cái đẹp của phongcảnh thường gắn với hình tượng “núi sông”,“sơn thủy”, “nước non”, “non xanh nước biếc”? Ở đây có thể có nhiều cáchgiải thích khác nhau. Trước hết chúng ta thấy trong sâu thẳm ý thức con người,những gì hài hòa thường là cơ sở tạo nên cảm giác đẹp, dễ chịu, ưa thích. Trongtư duy phương Đông, hài hòa lớn nhất là hài hòa giữa Âm và Dương. Từ cặp hàihòa Âm – Dương sẽ đẻ ra vô số cặp hài hòa khác, phổ biến nhất là những cặp hàihòa mang tính cân đối, đối xứng như kiểu: ngày – đêm, trên – dưới, trong –ngoài, lên – xuống, trưa – tối v.v… Trong ca dao có rất nhiều câu thơ thểhiện nét tư duy ấy:

Thương em như lá đài bi

Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương.

* *

*

Một người trên núi non Bồng

Một người dưới biển dốc lòng chờnhau.

* *

*

Ngược xuôi lên thácxuống ghềnh

Chim kêu bên nọ, vượn trèo bênkia.

Núi – sông sở dĩ trở thành biểu tượngcủa vẻ đẹp phong cảnh bởi vì nó là cặp hài hòa lớn nhất, rõ rệt nhất, huống chingoài điều đó ra, ở nước ta núi – sông vốn gắn bó chặt chẽ với cuộc sống củacon người, mọi công việc làm ăn, đói no, mọi sinh hoạt vui buồn đều gắn vớisông, với núi; sông núi rất gần gũi, thân thiết với con người. Tất cả điều đólàm cho sông núi dễ trở thành biểu tượng tiêu biểu của cái đẹp phong cảnhthường được nhắc đến trong ca dao.

Ngoài ra, ở đây cũng còn một lí do nữa.Sở dĩ ca dao tả phong cảnh thường nói đến sơn – thủy, nước – non có lẽ một phầnvì theo quan niệm cổ xưa của phương Đông, núi sông là cốt tủy của sự sống, núikhông thể thiếu sông, sông cần phải có núi, thiếu một trong hai cái đó, sự sốngkhông tồn tại, như dương thiếu âm, âm không có dương. Hình ảnh sông núi bênnhau bởi vậy trở thành tượng trưng cho vẻ đẹp của vũ trụ, của đất trời. Để giảithích vì sao tranh sơn thủy Trung Hoa thường vẽ cảnh núi sông, danh họa đời Bắc
Tống Quách Hy đã viết: “…núi có sông thì sinh động, có cây cỏ thì đẹp tươi, cókhói mây thì mỹ lệ. Sông lấy núi làm khuôn mặt, lấy đình, tạ làm vui mắt, lấyngười câu cá làm tinh thần. Cho nên sông có núi thì đẹp… Đó là sự bố trí củanúi sông”(6). Trong ý nghĩa ấy có thể nói những câu ca dao về thiên nhiên lànhững bức tranh sơn thủy.

Bên cạnh “sơn thủy”,”nước non” khi nói đến phong cảnh,trong ca dao còn thường gặp hai chữ “hữu tình”:

Nhìn xem phong cảnh làng ta

Có sơn, có thủy bao la hữu tình.

* *

*

Sáng trăng dạo cẳng đi chơi

Dạo miền sơn thủy là nơi hữu tình.

Ở đây vẻ đẹp của sơn thủy không chỉ cònlà vẻ đẹp của sự hài hòa như bản chất của sự sống mà còn mang một sắc thái khác – sắc tháicủa tình yêu. Cảnh đẹp là cảnh phải có tình. Tình ở đây trước hết là tình yêulứa đôi, có sơn có thủy, có mình có ta. Sơn thủy sở dĩ đẹp vì nó tượng trưng cho tình yêu, tượng trưng cho hình ảnh người con trai và người con gái cho sự sống có cặp có đôi:

Xem thêm :   Thành Tích, Lịch Sử Đối Đầu Tây Ban Nha Vs Thuỵ Sĩ, 1H45 Ngày 25/9

Nước non, non nước khơi chừng

Ái ân đôi chữ, xin đừng xa nhau.

Chính từ cảm hứng về vẻ đẹp của nướcnon như biểu tượng của tình yêu trong ca dao, Tản Đà đã viết nên bài “Thề nonnước” nổi tiếng:

Nước non nặng một lời thề

Nước đi đi mãi không về cùng non…

Như chúng ta thấy cảnh đẹp là cảnh “hữu tình”. Nhưng “hữu tình” không phải chỉ là đẹp. “Hữu tình” cũng không phải chỉ gắn với tình yêu:

Ở đây sơn thủy hữu tình

Có thuyền, có bến, có mình có ta.

* *

*

Đại Hoàng phong cảnh hữutình

Của nhiều đất rộng, gái xinh, trai tài.

* *

*

Kim Liên phong cảnh hữutình

Dương cơ cũng lịch, địa hìnhcũng vui.

“Hữu tình” còn gắn với hạnh phúc, no ấm, với độphì nhiêu của đất đai, với cuộc sống tấp nập và với chính sự hiện diện đẹp đẽcủa con người. Rõ ràng cả ở đây thẩm mỹ của dân gian rất nhất quán: cái đẹpluôn gắn với cái có ích. Nhưng ở đây cũng cho thấy một nét tính cách nữa củangười Việt, đó là coi trọng chữ tình. Cảnh quí không phải chỉ đẹp mà còn phải hữutình, hay nói cách khác, đẹp là phải hữu tình, khen một phong cảnh “hữu tình” thì không chỉ là khen nó mỹmiều mà còn khen nó vì nó gợi ra những liên tưởng về tìnhyêu hoặc cuộc sống no ấm. Chữ tình này là một đặc điểm nổi bật trong tính cáchngười Việt, thể hiện cả trong thị hiếu thẩm mỹ, trong tình yêu, trong cuộc sốngvà do đó cả trong văn học, trong ca dao:

Yêu nhau căn dặn đủ điều

Càng say về nết, càng yêu vì tình

* *

*

Sống mà chẳng có chữ tình

Thì em cũng quyết liều mình cho xong.

Tìm hiểu đặc điểm của thiên nhiên vàphong cảnh như ngọn nguồn của cảm xúc về cái đẹp trong ca dao, chúng ta thấynhững cảnh “hữu tình” thường là nhữngcảnh động:

Ở đây phong cảnh vui thay

Trên chợ dưới bến lại có gốc cây hữu tình.

* *

*

Trên trời có đám mây vàng

Bên sông nước chảy có nàng quay tơ.

Người dân quê tuy cuộc sống vất vả, làm lụng cực nhọc, hứng chịu đủ hậu quả thiên tai và bấtcông xã hội, nhưng nhìn chung cái nhìn của họ về cuộcsống vẫn trong sáng, thấm đượm lòng yêu thiên nhiên, yêu đời. Không có cái nhìn ấy không thể ngắm và vui vớiphong cảnh quê hương. Niềm vui ấy làm cho cảnh vật trở nên sống động, linhhoạt, tràn đầy sinh khí:

Trời xanh dưới nước cũng xanh

Trên non gió thổi dưới gành sóng xao.

* *

*

Vì mây cho núi lên trời

Vì cơn gió thổi hoa cười với trăng…

* *

*

Làng tôi có lũy tre xanh

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng

Bên bờ vải nhãn hai làng

Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.

Thị hiếu thẩm mỹ dân gian bộc lộ ở đâykhông chỉ thể hiện cái nhìn lạc quan về cuộc sống. Trong gốc rễ sâu xa, nó gắnliền với vũ trụ quan của người dân quê, với ý niệm thô sơ về tự nhiên, xem sựsinh trưởng và vận động của vạn vật là sự sống và bản thân sự sống đã là đẹp. Đốivới người dân quê, quả thực “cái đẹp làcuộc sống”. “Trên một mức độ nào đó,cây xào xạc, cành cây đu đưa, lá cây run rẩn cũng làm ta nghĩ đến cuộc sống củacon người… Một phong cảnh đẹp là khi nó có hoạt khí”(7). Cái “hoạt khí”toát lên từ cảnh gió thổi, sóng xao, hoa cười, cá lội tung tăng chứng tỏ phongcảnh trong những câu ca dao trên tràn đầy sự sống và do đó theo thểm mỹ củanhững người dân quê, nó cũng tràn đầy cái đẹp.

Điều này cho phép chúng ta giải thíchthêm một đặc điểm nữa của thiên nhiên và phong cảnh trong ca dao – đó là vì saotrong ca dao thường bắt gặp rất nhiều màu xanh:

Làng tôi có lũy tre xanh

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng.

**

*

Cát Chính có cây đa xanh

Có đường cái lớn chạy quanh trong làng.

**

*

Dừa xanh trên bến hai hang

Dừa bao nhiêu trái thương chàng bấy nhiêu.

Không chỉ “rau xanh”(concò lội bãi rau xanh/ Đắng cay chịuvậy than rằng cùng ai) mà còn có “sen xanh”(Xuốngđầm ngắt lá sen xanh/ Thấy chim loanphượng đỗ cành xoan nâu), “nải chuối xanh”(Lọngvàng che nải chuối xanh/ Tiếc conchim phượng đậu nhành tre khô), rồi đến “đồng xanh”(Đườngvề Đông Việt loanh quanh/ Đồng xanhlàng đẹp như tranh họa đồ), “rừng xanh”(Muốntắm mát xuống ngọn sông Đào/ Muốn ăn sim chin thì vào rừng xanh), “núi xanh”(Chim khôn bay lượn ngang trời/ Trong non non biếc, trông người người xa).

Đáng chú ý là không chỉ đồng xanh, rừngxanh, mà cả biển cũng xanh, trời cũng xanh, mây xanh, sông xanh, nước xanh, hồxanh, đến chim cũng xanh:

Rừng xanh cả biển cũng xanh

Để xem cây quế ngả cành về đâu.

* *

*

Trên trời có đám mây xanh

Có bông hoa lí, có nhành mẫu đơn.

* *

*

Sông xanh phẳng lặng nước đầy

Tình chung hai chữ nghĩa này giao hoan.

**

*

Ai đi qua đò có biết

Dòng nước trong xanh biết là bao.

**

*

Con chim nhạn xanh xếp cánhbay chuyền

Phận em là gái thuyền quyên má đào.

Sự đậm đặc của màu xanh trong ca dao rõràng là sự phản ánh màu sắc của thiên nhiên nước ta, một vùng đất nhiệt đới có nhiềucây xanh, nhiều rừng, nhiều cánh đồng trồng lúa và có bờ biển dài từ Bắc đến Nam.Nhưng không phải chỉ như vậy. Cây xanh, đồng xanh, rừng xanh luôn luôn là biểutượng của sự sinh trưởng, tốt tươi, trù phú. Màu xanh ở đây không chỉ là màucủa thiên nhiên mà còn là màu của sự sống. Màu xanh trở thành tượng trưng chovẻ đẹp của tự nhiên tràn đầy sức sống. Màu xanh cũng thể hiện cái nhìn tươimới, yêu đời của người dân quê đối với phong cảnh thiên nhiên, thể hiện một nétđáng yêu trong thẩm mỹ dân gian. Chính cái màu xanh ấy và cùng với nó là nhữngrung động thẩm mỹ chứa đầy tình yêu sự sống đã đi vào sáng tác của văn chươngbác học làm cho câu thơ mang đậm chất thẩm mỹ dân gian:

Cỏ xanh như khói bến Xuân tươi

Lại có mưa Xuân vỗ nước trời.

(Nguyễn Trãi)

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

(Nguyễn Du)

Sóng cỏ xanhtươi gợn tới trời.

(Hàn Mặc Tử)

Cái đẹp thiênnhiên là nguồn cảm hứng lớn của ca dao. Nó là cái đẹp đầu tiên, cái đẹp cótrước. Người có đẹp thì người cũng chỉ là một bộ phận của tự nhiên: “Người tahoa đất”. Trong thẩm mỹ dân gian vẻ đẹp của con người và thiên nhiên hòa vớinhau, tô điểm cho nhau, nhưng dường như cái đẹp của thiên nhiên vẫn cao hơn,như là thước đo, như là chuẩn mực:

Thấy em mắtphượng môi son

Mày ngài datuyết đào non trên cành.

Điều này giảithích vì sao trong ca dao vẻ đẹp của con người thường được ví với cây, với lá,với hoa:

Em như cái búphoa hồng

Anh giơ taymuốn bẻ về bồng nâng niu.

* *

*

Gái Dự Quần đẹpnhư hoa lí

Trai thanh tâncó ý mà theo.

* *

*

Nhác trông thấymột bóng người

Răng đen nhưngnhức, miệng cười như hoa.

Vẻ đẹp củathiên nhiên tràn ngập trong ca dao, hiện lên trên phong cảnh, trên hình dáng vàkhuôn mặt con người. Thái độ đối với cái đẹp của thiên nhiên ấy vừa phản ánh vũtrụ quan thô sơ của người dân quê coi con người và thiên nhiên như là một, vừanói lên tình yêu của họ đối với thiên nhiên, một tình yêu vừa có ý nghĩa mỹ họcsâu sắc, vừa chứa đựng trong nó một nhãn quan về môi trường rất nhân văn vàhiện đại.

Tìmhiểu cái đẹp của thiên nhiên và phong cảnh trong ca dao chính là tìm hiểu cáchcon người cảm nhận vẻ đẹp của thế giới xung quanh, tìm hiểu đặc điểm của nhữngrung động thẩm mỹ đã để lại dấu vết trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, trongcách đề cao, khen ngợi những cảnh vật được ưa thích. Từ những khảo sát bước đầutrên đây, chúng ta thấy tình yêu thiên nhiên, trong đó có yêu cái đẹp của thiênnhiên, phong cảnh là một nét nổi bật trong tính cách người Việt. Đối với ngườidân quê, cảnh đẹp là cảnh có sơn có thủy, sông núi hài hòa, núi sông uốn lượngmềm mại, cảnh vật luân chuyển, hoạt động, tràn đầy sinh khí và sức sống (“xanh tươi”) nhưng cũng đầy tình tứ, gắnbó, tương thông với con người (“hữu tình”). Cảnh đẹp ấy bên cạnh hình dáng uyểnchuyển và màu sắc tươi tắn còn là hình ảnh của ấm no, hạnh phúc. Trong thẩm mỹcủa người dân quê,cái đẹp và cái có ích không loại bỏ nhau mà gắn chặtvới nhau.

Nghệthuật là nơi tập trung cao nhất quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực,nhưng cái đẹp không chỉ có trong nghệ thuật. Cáiđẹp có cả trong thiên nhiên trong phong cảnh. Rung động trước vẻ đẹp của thiênnhiên là một bộ phận trong kinh nghiệm thẩm mỹ của con người. Tìm hiểu nhữngrung động thẩm mỹ thể hiện qua ca dao truyền thống cũng là một cách tiếp cậnbản sắc văn hóa của người Việt và tìm hiểu cái đẹp của nghệ thuật. “Mỹ học tựnhiên sẽ cho chúng ta những cơ sở cần thiết để xây dựng triết học nghệ thuật”(8).

·Chú thích:

(1) Hà Văn Tấn – Bản sắc vănhóa Việt cổ, trong sách: “Đến với lịch sử Văn hóa Việt Nam”, Nxb. Hội Nhà Văn, 2005, trang151.

(2) Ca dao trích dẫn được lấy từ bộ sách: Nguyễn Xuân Kính,Kho tàng ca dao người Việt (2 tập), Nxb. Văn hóa Thông tin, 2001.

(3) Từ trong di sản… Nxb. Tác phẩm mới, HN, 1981, trang32,62,76.

(4) Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb. Bốnphương, HN, 1951, trang 22.

(5) Xem Đinh Gia Khánh: Câu mở đầu trong ca dao,…. .

(6) Theo Lưu Cương Kỷ – Phạm Minh Hoa: Chu Dịch và Mỹ học, Nxb Văn hóa – Thông tin, HN, 2002, trang 46.

(7)N.G. Tchernyishevxki. Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với hiện thực. Nxb. Vănhóa – Nghệ thuật, HN, 1962, trang 27,28.

Xem thêm: Tổng Hợp Những Câu Lí Luận Văn Học Hay, Những Câu Lí Luận Văn Học Dùng Làm Văn

(8) Vladimir Soloviev: Cáiđẹp trong thiên nhiên, trong sách “Siêu lý tình yêu” (Phạm Vĩnh Cư dịch), Nxb. Tri Thức, Hà Nội, tập 3, trang 9.

Cảm ơn bạn đã đọc bài viết Giá Trị Nhân Văn Học Dân Gian Về Tình Yêu Thiên Nhiên, Văn Học Dân Gian Về Tình Yêu Thiên Nhiên . Đừng quên truy cập Chaolong TV kênh trực tiếp bóng đá số 1 Việt Nam hiện nay để có những phút giây thư giãn cùng trái bóng tròn !

By Chaolong TV

Chaolong TV trang web xem livestream bóng đá trực tiếp miễn phí tất cả các giải đấu hàng đầu thế giới. Xem bóng đá trực tiếp tốc độ cao chất lượng 4k, không quảng cáo, bình luận tiếng việt.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *