Rate this post

Bài viết dưới đây đề cập đến lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Sau đây hãy cùng ACC tìm hiểu bài viết nhé.

Bạn đang xem: Lịch sử việt nam qua các thời kỳ

*

Lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ

Thời tiền sử

Việt Nam ở thời tiền sử phát triển qua các thời kỳ sau:Thời đồ đá cũ: Con người xuất hiện khoảng từ 10.000 – 30.000 năm về trước, với các dấu tích của nền văn hóa Núi Đọ, Thần Sa và Sơn Vi.Thời đồ đá mới: Xuất hiện khoảng 5700-15000 năm về trước, tiêu biểu với văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn – cái nôi của nền văn minh lúa nước.Thời đồ đồng đá: Là nền văn hóa tiền sử thuộc thời đồ đồng và cuối thời đại đồ đá mới, xuất hiện khoảng từ 3500-4000 năm về trước; tiêu biểu là nền văn hóa Phùng Nguyên.Thời đồ đồng: Xuất hiện cách đây khoảng 3000 năm về trước với tiêu biểu là nền văn hóa Đồng Đậu và văn hóa Gò Mun.Thời đồ sắt: Vào khoảng năm 1200 TCN, sự phát triển của kỹ thuật trồng lúa nước và đúc đồ đồng ở khu vực sông Mã và đồng bằng sông Hồng cho ra đời nền văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo.

Thời kỳ cổ đại (2879–111 TCN)

Kỷ Hồng Bàng (?–258 TCN)

Nước Xích Quỷ: Là 1 nhà nước “liên bang”, lỏng lẻo của các bộ tộc người Việt cổ ở vùng Lĩnh Nam. Theo tương truyền, Kinh Dương Vương là Thủy tổ của dân tộc Việt Nam có con là Lạc Long Quân đã lấy Âu Cơ và sinh ra một bọc trăm trứng nở ra một trăm người con trai. Đây được xem là tổ tiên của người Bách Việt, có con trưởng là Hùng Vương nối ngôi.

Nhà nước Văn Lang (Thế kỷ VII–258 TCN hoặc 218 TCN): Sau khi nhà nước liên bang tan rã thì vào khoảng thế kỷ thứ 7 TCN, người Lạc Việt ở miền Bắc lúc bấy giờ đã xây dựng một nhà nước lấy tên là Văn Lang, do vua Hùng cai trị và đóng đô ở Phong Châu (Phú Thọ).

Nhà Thục (khoảng 257 TCN – 208 TCN)

Vào khoảng thế kỷ thứ 3 TCN, Thục Phán của bộ Âu Lạc đã hợp lực cùng vua Hùng thứ 18 đánh bại quân xâm lược nhà Tần. Sau đó, sáp nhập Âu Việt và Lạc Việt thành Âu Lạc. Thục Phán lên ngôi, lấy hiệu là An Dương Vương lập lên nhà Thục và đóng đô ở Cổ Loa.

Thời Bắc thuộc (111 TCN – 938)

Thời Bắc thuộc lần thứ I (208 TCN – 39) 

Trong thời kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ lần thứ nhất, Triệu Đà là quận ủy quận Nam Hải nhân lúc nhà Tần suy yếu đã giết Trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ Lĩnh Nam rồi đem quân đi thôn tính lãnh thổ Âu Lạc, Mân Việt, Quế Lâm thành lập lên nhà Triệu, lấy tên nước là Nam Việt và kinh đô là Phiên Ngưng. Nhà Triệu tồn tại 5 đời vua gồm:

Triệu Vũ Đế (Triệu Đà, 207-136 TCN)Triệu Văn Đế (Triệu Hồ, 136-124 TCN)Triệu Minh Vương (Triệu Anh Tề, 124-112 TCN)Triệu Ai Vương (Triệu Hưng, 112-112 TCN)Triệu Dương Vương (tức là Triệu Kiến Đức, 112-111 TCN)

Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế đem 10 vạn quân đi thôn tính Nam Việt. Nhà Hán chia Nam Việt thành 9 quận bao gồm Đạm Nhĩ, Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô, Giao Chỉ (Bắc Bộ nước ta), Cửu Chân (Thanh Hóa-Nghệ Tĩnh), Nhật Nam (Quảng Bình-Quảng Nam). Chúng thực hiện các chính sách cai trị tàn bạo và vô cùng khắc nghiệt.

Trưng Nữ Vương (40 – 43) 

Cuộc khởi nghĩa của hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị diễn ra trong vòng 3 năm đã giúp quân ta đã chiếm được 65 thành trì ở các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố.

Sau đó, do bị cô lập và quân đội còn sơ khai đã khiến 2 bà không chống cự nổi quân của Mã Viện. Cuối cùng, để giữ vẹn khí tiết thì 2 bà đã tuẫn tiết tại sông Hát.

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ II (43 – 543) 

Sau nhà Hán, các triều đại phong kiến phương Bắc gồm Đông Ngô, nhà Tấn, Lưu Tống, Nam Tề và nhà Lương đã thay nhau đô hộ nước ta. Có rất nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổi dậy nhưng tất cả đều không thành công.

Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu ở thời kỳ này có thể kể đến là khởi nghĩa anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh thời Đông Ngô, khởi nghĩa anh em Lý Trường Nhân và Lý Thúc Hiến thời Lưu Tống – Nam Tề.

Nhà Tiền Lý (544-602)

Trong thời kỳ bị đô hộ bởi nhà Lương, Lý Bôn hay còn gọi là Lý Bí đã đánh đuổi thành công quân Lương để thành lập nên nhà Tiền Lý hay gọi là nhà nước Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên.

Nhà Tiền Lý trải qua 3 đời vua trước khi sụp đổ gồm:

Lý Nam Đế (544-548)Triệu Việt Vương (548-571)Lý Phật Tử (571-602)

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ III (602 – 905)

Đến năm 581, Trung Quốc lập ra nhà Tùy và đến năm 602, vua Tùy đem quân sang đánh nước ta. Lý Phật Tử xin hàng và nước ta lại rơi vào tay giặc ngoại bang phương Bắc. Sau khi nhà Tùy sụp đổ, nhà Đường đã cai trị nước ta.

Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu vào giai đoạn này phải kể đến: Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722), khởi nghĩa Phùng Hưng (766-791), khởi nghĩa Dương Thanh (819-820).

Thời kỳ tự chủ (905–938)

Vào năm 905, nhân lúc nhà Đường suy yếu Khúc Thừa Dụ đánh đuổi giặc Đường và tự xưng là Tiết độ sứ. Ông được Nhà Đường công nhận là người đứng đầu đất Việt và họ Khúc đã đặt nền móng cho nền độc lập của nước ta.

Ở thời kỳ này, nhà Khúc trải qua 4 đời vua cai trị gồm:

Khúc Thừa Dụ (905-907)Khúc Hạo (907-917)Khúc Thừa Mỹ (917-930)Dương Đình Nghệ (931-938, tướng của vua Khúc Hạo)

Thời kỳ quân chủ (939–1945)

Thời kỳ độc lập (939-1409)

Nhà Ngô (939 – 965)

Năm 938, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết chết và để trả thù cho bố vợ thì Ngô Quyền đã giết chết Kiều Công Tiễn. Sau đó, ông đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng để lập lên nhà Ngô và đóng đô ở Cổ Loa.

Năm 944, Ngô Quyền mất và em vợ Dương Tam Kha cướp nhà Ngô làm các nơi không chịu thuần phục khiến các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng gọi là “Loạn 12 sứ quân”. Các đời cai trị của nhà Ngô gồm:

Xem thêm :   9 Điểm Du Lịch Hàng Đầu Trên Thế Giới, Trong Đó Có Một Địa Điểm Rất Gần Việt Nam

Ngô Vương (939-944)Dương Bình Vương (944-950)Hậu Ngô Vương (944-965)

Nhà Đinh (968 – 980) 

Sau thời Hậu Ngô Vương, đất nước rơi vào tình trạng loạn lạc và hình thành lên 12 sứ quân. Giai đoạn loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm từ 944 – 968.

Đến năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân để lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Tiên Hoàng Đế, quốc hiệu là Đại Cồ Việt – Nhà nước tập quyền đầu tiên ở nước ta đóng đô ở Hoa Lư. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trai Đinh Liễn bị giết chết khi say rượu nên Đinh Toàn (khi đó mới 6 tuổi) lên ngôi. Các triều đại nhà Đinh gồm:

Đinh Tiên Hoàng (968-979)Đinh Phế Đế (979-980)

Nhà Tiền Lê (980 – 1009) 

Năm 980, lợi dụng tình hình nhà Đinh suy yếu và giặc Tống nhăm nhe xâm lược nước ta thì Lê Hoàn đã được Thái hậu Dương Vân Nga trao lại ngôi vua và lấy niên hiệu là Lê Đại Hành để đánh tan quân Tống rồi chấn hưng đất nước. Nhà Tiền Lê tồn tại 29 năm và có 3 đời vua cai trị là:

Lê Đại Hành (980-1005)Lê Trung Tông (1005)Lê Ngọa Triều (1005-1009)

Nhà Lý (1009 – 1225) 

Cuối thời nhà Tiền Lê, Lê Ngọa Triều bỏ bê việc triều chính thì Lý Công Uẩn đã được suy tôn lên ngôi vua. Đến tháng 7/1010, Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long và đến năm 1054 lấy quốc hiệu là Đại Việt.

Nhà Lý tồn tại 219 năm và trải qua 9 đời vua cai trị:

Lý Thái Tổ (1009-1028)Lý Thái Tông (1028-1054)Lý Thánh Tông (1054-1072)Lý Nhân Tông (1072-1127)Lý Thần Tông (1127-1137)Lý Anh Tông (1138-1175)Lý Cao Tông (1175-1210)Lý Huệ Tông (1210-1224)Lý Chiêu Hoàng (1224-1225)

Nhà Trần (1225 – 1400) 

Vào năm 1208, Lý Huệ Tông chạy loạn về Hải Ấp và được nhà ông Trần Lý làm nghề đánh cá giúp đỡ và lấy con gái Trần Thị Dung làm vợ.

Sau đó, anh em nhà họ Trần mộ quân đã giúp Lý Huệ Tông khôi phục kinh đô Thăng Long và lúc đó đứng đầu là Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng (8 tuổi) lấy và nhường ngôi cho Trần Cảnh để chấm dứt sự tồn tại của nhà Lý.

Trong thời gian cai trị, nhà Trần đã 3 lần đánh tan quân Nguyên. Nhà Trần cũng là một triều đại quân chủ trong lịch sử nước ta, tồn tại 175 năm với 12 đời vua:

Trần Thái Tông (1225-1258)Trần Thánh Tông (1258-1278)Trần Nhân Tông (1278-1293)Trần Anh Tông (1293-1314)Trần Minh Tông (1314-1329)Trần Hiến Tông (1329-1341)Trần Dụ Tông (1341-1369)Trần Nghệ Tông (1370-1372)Trần Duệ Tông (1372-1377)Trần Phế Đế (1377-1388)Trần Thuận Tông (1388-1398)Trần Thiếu Đế (1398-1400)

Nhà Hồ (1400 – 1407) 

Khi nhà Trần suy yếu, Hồ Quý Ly cướp ngôi của cháu ngoại Trần Thiếu Đế để lập lên nhà Hồ và lấy tên nước là Đại Ngu. Tuy nhiên, do thực hiện quá nhiều cải cách táo bạo và mắc tội giết vua cùng tôn tộc, quan lại nhà Trần nên ông đã không thể tập hợp được lực lượng của toàn dân.

Năm 1401, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con trai Hồ Hán Thương. Đến năm 1406, nhà Minh lấy cớ “phò Trần diệt Hồ” sang đánh nước Đại Ngu. Cha con nhà Hồ không thể chống cự nên bị bắt và giết chết. Theo đó, nhà Hồ tồn tại trong thời gian 7 năm với 2 đời vua:

Hồ Quý Ly (Thánh Nguyên, 1400-1401)Hồ Hán Thương (1401-1407)

Nhà Hậu Trần (1407 – 1409) 

Năm 1407, quân Minh chiếm đóng Đại Ngu thì Trần Ngỗi là con trai thứ của Trần Nghệ Tông đã bỏ trốn đến Mô Độ, Trường Yên tập hợp binh lính đánh bại nhà Minh và khôi phục lại nhà Trần.

Đến năm 1409, nội bộ nhà Trần bị chia rẽ thì một số quan lại đã đón Trần Quý Khoách là cháu nội của Trần Nghệ Tông ra Nghệ An làm vua. Trần Quý Khoách sai quân đánh úp ông nội và cho ông về làm Thái Thượng Hoàng. Tuy nhiên, thời nhà Hậu Trần cũng không tồn tại được bao lâu với 2 đời vua:

Giản Định Đế (1407 – 1409)Trùng Quang Đế (1409 – 1413)

Thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ IV (1413 – 1428)

Năm 1413, quân Minh phản kích khiến cuộc chiến giữa nhà Trần và quân Minh diễn ra rất ác liệt. Cuối cùng do lực lượng mỏng nên nhà Trần đã bị đánh bại. Vua tôi nhà Trần bị bắt toàn bộ và đã tự vẫn để giữ trọn khí tiết. Nước ta một lần nữa bị rơi vào tay giặc phương Bắc.

Thời kỳ Trung Hưng – Nhà Hậu Lê (1428-1527)

Năm 1427, Lê Lợi đánh bại quân Minh để lập lên nhà Hậu Lê. Đây được gọi là giai đoạn Nhà Lê sơ, nước Đại Việt phát triển mạnh mẽ về kinh tế và quân sự. Sau hơn 70 năm cai trị, nhà Lê suy yếu do những vị vua kém cỏi. Nhà Lê trải qua các đời vua:

Lê Thái Tổ (1428 – 1433)Lê Thái Tông (1433 – 1442)Lê Nhân Tông (1442 – 1459)Lê Thánh Tông (1460 – 1497)Lê Hiến Tông (1497 – 1504)Lê Túc Tông (1504)Lê Uy Mục (1505 – 1509)Lê Tương Dực (1509 – 1516)Lê Chiêu Tông (1516 – 1522)Lê Cung Hoàng (1522 – 1527)

Thời kỳ chia cắt (1527–1802)

Thời kỳ Bắc Triều – Nam Triều (1527-1592)

Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê để thành lập lên nhà Mạc ở miền Bắc gọi là Bắc Triều.

Cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim không phục đã đưa Lê Duy Ninh về làm hoàng đế để phục hưng lại nhà Lê gọi là Nam triều. Theo sử sách ghi lại, Lê Duy Ninh sau gọi là Trang Tông là con trai của vua Lê Chiêu Tông và về sau dân gian gọi ông là chúa Chổm.

Sau khi Nguyễn Kim bị hạ độc chết, con rể là Trịnh Kiểm đã giữ binh quyền và ngấm ngầm hại các em vợ. Nguyễn Hoàng là con trai của Nguyễn Kim đã may mắn thoát chết do xin vào trấn phủ Thuận Hóa, rồi gây dựng lên giang sơn của nhà Nguyễn gọi là Đàng Trong.

Nam triều và Bắc triều giao tranh gần 50 năm (1543-1592), thì Trịnh Tùng – con trai Trịnh Kiểm đã đánh bại được nhà Mạc vào năm 1592 rồi đón vua Lê Thánh Tông vào Thăng Long năm 1595 để mở đầu cho thời kỳ “Vua Lê, chúa Trịnh”.

Thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh (từ 1533-1788)

Cuộc chiến Trịnh (Đàng Ngoài) và Nguyễn (Đàng Trong) bắt đầu phân tranh. Mở đầu là năm 1627, Trịnh Tráng đem quân vào Nam đánh Nguyễn Phúc Nguyên. Sau thời gian giằng co thì đến năm 1672, hai bên tạm thời ngừng chiến và lấy sông Gianh làm giới tuyến. Tuy nhiên, trên danh nghĩa thì vua Lê vẫn là người đứng đầu đất nước.

Các đời vua nhà Lê Trung Hưng tồn tại từ 1533-1788 bao gồm:

Lê Kính Tông (1600-1619)Lê Thần Tông (2 lần lên ngôi 1619-1643 và 1649-1662)Lê Chân Tông (1643-1649)Lê Huyền Tông (1663-1671)Lê Gia Tông (1672-1675)Lê Hy Tông (1675-1705)Lê Dụ Tông (1705-1729)Lê Duy Phường (1729-1732)Lê Thuần Tông (1732-1735)Lê Ý Tông (1735-1740)Lê Hiển Tông (1740-1786)Lê Mẫn Đế (1787-1788)

Các chúa Trịnh ở đàng ngoài (1545-1788) bao gồm:

Thanh Đô Vương (tức Trịnh Tráng, 1623-1652)Tây Đô Vương (tức Trịnh Tạc, 1653-1682)Định Vương (tức Trịnh Căn, 1682-1709)An đô vương (tức Trịnh Cương, 1709-1729)Uy nam vương (tức Trịnh Giang, 1729-1740)Minh đô vương (tức Trịnh Doanh, 1740-1767)Tĩnh đô vương (tức Trịnh Sâm, 1767-1782)Điện Đô Vương (tức Trịnh Cán, 2 tháng trong năm 1782)Đoan Nam Vương (tức Trịnh Khải, 1782-1786)Án Đô Vương (tức Trịnh Bồng) (1787-1788)

Xem thêm :   Cách Tra Cứu Lịch Sử Cuộc Gọi Viettel Có Kết Quả Ngay Không Tốn Phí

Các chúa Nguyễn ở đàng trong (1558-1777) gồm:

Nguyễn Phúc Nguyên (hay gọi là Chúa Sãi, 1613-1635)Nguyễn Phúc Lan (tức chúa Thượng, 1635-1648)Nguyễn Phúc Tần (hay gọi là chúa Hiền, 1648-1687)Nguyễn Phúc Thái (hay gọi là chúa Nghĩa, 1687-1691)Nguyễn Phúc Chu (hay gọi là chúa Quốc, 1691-1725)Nguyễn Phúc Thụ (tức Ninh Vương, 1725-1738)Nguyễn Phúc Khoát (tức Võ Vương, 1738-1765)Nguyễn Phúc Thuần (tức Định Vương, 1765-1777)

Thời kỳ thống nhất (1788-1858)

Nhà Tây Sơn (1778-1802)

Vào năm 1771, anh em Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa và đến năm 1778 thì tiêu diệt được chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Tuy nhiên, Nguyễn Ánh đã chạy thoát và Nguyễn Nhạc đã lên ngôi hoàng đế để lập lên Triều đại nhà Tây Sơn, niên hiệu là Thái Đức. Nhà Tây Sơn là một triều đại quân chủ trong lịch sử Việt Nam với 3 đời vua cai trị là:

Thái Đức hoàng đế – Nguyễn Nhạc (1778-1788)Quang Trung hoàng đế – Nguyễn Huệ (1788-1792)Cảnh Thịnh hoàng đế – Nguyễn Quang Toản (con trai Nguyễn Huệ, 1793-1802)

Nhà Nguyễn -Thời kỳ độc lập tự chủ (1802-1883)

Vào năm 1802, Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn khi đang suy yếu. Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, đóng đô tại thành Phú Xuân và đặt quốc hiệu là Việt Nam. Đến năm 1820, vua Minh Mạng đổi quốc hiệu thành Đại Nam.

Nhà Nguyễn tồn tại 81 năm với 4 đời vua gồm:

Gia Long (tức Nguyễn Phúc Ánh, 1802-1820)Minh Mạng (tức Nguyễn Phúc Đảm, 1820-1840)Thiệu Trị (hay Miên Tông, 1841-1847)Tự Đức (tức Hồng Nhiệm, 1847-1883)

Thời kỳ hiện đại (1858–nay)

Thời kỳ Pháp đô hộ (1883-1945)

Ngày 31 tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đã đổ bộ vào tấn công cảng Đà Nẵng rồi chiếm đóng Sài Gòn. Triều đình Huế do vua Tự Đức đứng đầu đã ký hiệp ước nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp rồi đến năm 1867, Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây để tạo thành một lãnh thổ Nam Kỳ.

Các đời vua nhà Nguyễn dưới ách thống trị của Thực dân Pháp gồm:

Nước Việt Nam từ 1945 – 1976

Chiến tranh Việt Nam (1955-1975)

Trong thời gian từ 1956-1958, dưới sự trợ giúp của Mỹ thì Ngô Đình Diệm – một vị quan thời vua Bảo Đại đã gian lận để chiến thắng cuộc trưng cầu ý dân nhằm xác định người lãnh đạo của Quốc gia Việt Nam.

Sau này, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống của nước Việt Nam Cộng Hòa phế truất vua Bảo Đại khiến ông phải lưu vong sang Pháp. Mỹ bắt đầu viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm để củng cố chính phủ thân Mỹ.

Dưới thời Ngô Đình Diệm, hàng loạt các cuộc đàn áp chính trị và tôn giáo đã khiến trăm nghìn người thiệt mạng. Chính sách “Tố cộng, Diệt cộng”, gây ra các thảm sát, biểu tình Phật giáo diễn ra khắp nơi, mâu thuẫn tôn giáo sâu sắc. Đây chính là giai đoạn tăm tối và khổ sở nhất của người dân miền Nam Việt Nam.

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976 đến nay)

Năm 1954, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh tan ý định xâm lược lần thứ 2 của thực dân Pháp bằng chiến thắng Điện Biên Phủ để buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận độc lập – chủ quyền và rút quân khỏi Đông Dương.

Sau khi tiến hành nhiều cuộc chiến tranh mà không giành được thắng lợi thì vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris và rút chân ra khỏi miền Nam trong danh dự. Năm 1975, quân giải phóng miền Nam đã tổng tiến công và nổi dậy vào Sài Gòn lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và thống nhất đất nướ

Năm 1976, nước ta hoàn toàn được độc lập với tên gọi chính thức là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có Đảng Cộng Sản Việt Nam, thủ đô Hà Nội và Sài Gòn đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh.

Trên đây ACC đã giúp bạn tìm hiểu lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Trong quá trình tìm hiểu, nếu có câu hỏi thắc mắc xin vui lòng liên hệ đến website của Công ty Luật ACC để được giải đáp.

*

*

*

*

Tóm tắt lịch sử Việt Nam, 10 phút học lịch sử Việt Nam

– Thời đại tiền sử > Thời kỳ đồ đá cũ > Thời kỳ đồ đá mới > Thời kỳ đồ đồng >Thời kỳ đồ sắt

– Sự hình thành Nước Văn Lang và Nước Âu Lạc

+ Các Vua Hùng Vương đã thay nhau trị vì nước Vãn Lang+ Đến thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, An Dương Vương lập nên nước âu Lạc và vết tích Thành Cổ Loa vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

– Giai đoạn Bắc thuộc: Từ năm 207 trước công nguyên đến Thế kỷ thứ 10 sau công nguyên:

Vào nãm 207 trước công nguyên, nước Âu Lạc bị xâm chiếm bởi Triệu Đà là Vua nước Nam Việt bên. Sau đó vào nãm 111 trước công nguyên, Nước Âu Lạc bị nhà Hán đô hộ. Âu Lạc bị phân chia thành hai Quận: Giao Chỉ và Cửu Chân. Việt Nam tiếp tục bị Trung Hoa đô hộ trong suốt 11 thế kỷ. Trong giai đoạn nầy nhiều anh hùng dân tộc đã dấy binh khởi nghĩa đấu tranh giành độc lập như : ➞ Khởi nghĩa Hai Bà Trưng của hai chi em Trưng Trắc Trưng Nhị năm 40 – 43➞ Khởi nghĩa Bà Triệu của bà Triệu Thị Trinh năm 248➞ Khởi nghĩa của Lý Nam Đế hay còn gọi Lý Bôn hay lý Bí năm 542 – 602 lấy tên nước là Vạn Xuân kinh đô tại Long Biên (Long Biên Hà Nội ngày nay)➞ Khởi nghĩa Mai Thúc Loan còn gọi Mai Hắc Đế năm 722➞ Khởi nghĩa Phùng Hưng năm 766 – 791Và Ngô Quyền với trận đại thắng vang dội quân Nam Hán trên Sông Bạch đằng Năm 938, đã chấm dứt 1000 nãm đô hộ và giành lại chủ quyền cho Việt Nam. Ngô – Ngô Quyền > Đinh – Đinh Tiên Hoàng > Tiền Lê – Lê Hoàn > Lý – Lý Công Uẩn > Trần – Trần Thái Tông > Nhà Hồ – Hồ Quí Ly > Hậu Trần – Trần Trùng Quang > Lê Sơ (Lê lợi) > Nhà Mạc – Mạc Thái Tổ > Lê Trung Hưng – Lê Chiêu Thống > Triều đại Tây Sơn – Nguyễn Huệ > Nhà Nguyễn từ Nguyễn Ánh đến Bảo Đại 1945. Trịnh Nguyễn phân tranh từ giữa thời Lê Sơ khéo dai gần 200 năm đến hết Lê Trung Hưng. Nhà nguyễn tồn tại đến 1945 với Bảo Đại là vị vua cuối cùng.

Lịch sử các Triều đại phong kiến Việt Nam:

Trang sử mới của lịch sử Việt Nam được mở ra vào đầu thế kỷ thứ 10 khi mà các triều đại Ngô, đinh, Tiền Lê đã vững chắc, đoàn kết và có đủ sức mạnh để bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nướcTriều đại Ngô: ( 939 – 965 ) 26 năm với 5 vị Vua tên nước Vạn Xuân kinh độ tại Cổ Loa1. Tiền Ngô Vương – Ngô Quyền ( 939-944):2. Dương Bình Vương – Dương Tam Kha (Là em vợ cướp ngôi) (944-950)3. Nam Tấn Vương – Ngô Xương Căn (con thứ hai của Ngô Quyền) (950-965)4. Thiên Sách Vương – Ngô Xương Ngập (Cháu Ngô Quyền) 951-959)Trong giai đoạn 951 – 959 nước ta có 2 Vua5. Ngô Sứ Quân – Ngô Xương Xí (965)Kể từ khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô năm 944, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt – nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử.Triều Đinh: ( 968 – 980) 12 năm với 2 đời vua có tên Quốc hiệu là Đại Cồ Việt kinh đô tại Hoa Lư 1. Đinh Tiên Hoàng – Đinh Bộ Lĩnh (968-979)2. Đinh Phế Đế – Đinh Toàn (979-980)

Xem thêm :   Chùm tour du lịch ý 2022

Đinh Toàn mới lên 6 tuổi, được triều thần đưa lên ngôi vua. Nhân cơ hội đó nhà Tống cho quân sang xâm lược nước ta. Vì lợi ích của dân tộc, Thái hậu Dương Vân Nga (vợ của Đinh Tiên Hoàng, mẹ đẻ của Đinh Toàn), thể theo nguyện vọng các tướng sĩ, đã trao áo “Long Cổn” (biểu tượng của ngôi vua) cho Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn, tức là Lê Đại Hành.

Tiền Lê: (980 – 1009) 29 năm với 3 đời Vua Quốc hiệu là Đại Cồ Việt kinh đô tại Hoa Lư1. Lê Đại Hành – Lê Hoàn (980-1005)2. Lê Trung Tông – Lê Long Việt (1005)3. Lê Ngoạ Triều – Lê Long Đĩnh (1005 – 1009)Lê Long Đĩnh đã làm việc càn dỡ giết Vua cướp ngôi, thích dâm đãng, tàn bạo, róc mía trên đầu nhà sư… Do chơi bời trác táng quá Lê Ngoạ Triều làm vua được 4 năm (1005 – 1009) thì mất, thọ 24 tuổi. Long Đĩnh mất, con tên là Sạ còn bé, dưới sự đạo diễn của quan Chi Hậu Đào Cam Mộc, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đếThời Lý: (1009 – 1225 ) 9 đời Vua trong 216 năm 1. Lý Thái Tổ – Lý Công Uẩn (1010 – 1028) năm 1010 dời đô về Thăng Long 2. Lý Thái Tông – Lý Phật Mã (1028 – 1054) năm 1054 đổi tên Quốc hiệu là Đại Việt kinh đô tại Thăng Long 3. Lý Thánh Tông – Lý Nhật Tôn (1054 – 1072) 4. Lý Nhân Tông – Lý Càn Đức (1072 – 1128) – Quốc tử giám đầu tiên được lập vào năm 1076 tại Kinh thành Thăng Long 5. Lý Thần Tông – Lý Dương Hoán (1128 – 1138)6. Lý Anh Tông – Lý Thiên Tộ (1138 – 1175)7. Lý Cao Tông – Lý Long Trát (1176 – 1210)8. Lý Huệ Tông – Lý Sảm (1211 – 1224)9. Lý Chiêu Hoàng – Lý Phật Kim (1224 – 1225)

Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Lý Huệ Tông bị ép đi tu, nhường ngôi vua cho con gái là công chúa Chiêu Thánh (lúc đó mới 7 tuổi) niên hiệu là Lý Chiêu Hoàng. Cũng dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh (8 tuổi) là con ông Trần Thừa được đưa vào hầu cận Lý Chiêu Hoàng và Trần Thủ Độ tung tin là Lý Chiêu Hoàng đã lấy chồng là Trần Cảnh.

Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên An, trước bá quan văn võ, Chiêu Hoàng cởi hoàng bào mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất, dựng lên triều đại nhà Trần từ đấy.

Chiêu Thống 1787-1789Trịnh Bồng tự lập làm nguyên soái Yến Đô vương và lấn át nhà vua khiến cho triều chính rối ren, chém giết lẫn nhau. Nguyễn Huệ khi đó là Bắc Bình Vương kéo quân ra Bắc dẹp loạn rồi lại rút quân về Phú Xuân.

Để khôi phục lại triều Lê, tháng 7/1788 Hoàng thái hậu nhà Lê sang cầu viện nhà Mãn Thanh. Dựa vào thế quân Mãn Thanh, Lê Chiêu Thống trở lại kinh đô Thăng Long đã trả thù tàn bạo những người theo Tây Sơn.

Mồng 5 tết năm Kỷ Dậu (1789), quân đội Tây Sơn do hoàng đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy kéo ra Bắc đã đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ở gò Đống Đa giành độc lập cho tổ quốc ta. Lê Chiêu Thống, vua bán nước, đã chạy theo tàn quân nhà Thanh sang Trung Quốc.

Xem thêm: Giải Bài Tập Lịch Sử Lớp 5 Bài 24 : Chiến Thắng “Điện Biên Phủ Trên

Triều đại Tây Sơn (1789 – 1802) – Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ kinh đô tại Qui Nhơn và Phú Xuân (Huế)Khi vua Quang Trung đang định chuẩn bị đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột ngột qua đời (1792). Con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi không có người lãnh đạo đủ năng lực, nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu. Nội bộ xảy ra tranh chấp. Giữa năm 1802 Nguyễn Ánh (Tàn dư của đàng trong) tiến ra chiếm được Thăng Long. Nguyễn Ánh đã trả thù những người theo Tây Sơn vô cùng tàn bạo: Mộ của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã thành bột nhồi vào thuốc súng và bắn đi. Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày, Trần Quang Diệu bị chém đầu.Triều Nguyễn (1802-1945) đổi tên nước là Việt Nam kinh đo tại HuếNguyễn Ánh lên ngôi nãm 1802 và lập ra triều Nguyễn với 13 đời Vua trong 143 năm1. Nguyễn Phúc Ánh (1802-1820) Sáng lập nhà Nguyễn2. Nguyễn Phúc Đảm – Minh Mạng (1820 – 1841) quốc hiệu được đổi thành Đại Nam3. Nguyễn Phúc Miên Tông – Thiệu Trị (1841 – 1847)4. Nguyễn Phúc Hồng Nhậm – Tự Đức (1847-1883)5. Nguyễn Phúc Ưng Chân – Dục Đức (1883) 6. Nguyễn Phúc Hồng Dật – Hiệp Hòa (1883)7. Nguyễn Phúc Ưng Đăng – Kiến Phúc (1883-1884)8. Nguyễn Phúc Ưng Lịch – Hàm Nghi (1884-1885)9. Nguyễn Phúc Ưng Kỷ – Đồng Khánh (1885-1889)10. Nguyễn Phúc Bửu Lân – Thành Thái (1889-1907) 11. Nguyễn Phúc Vĩnh San – Duy Tân (1907 – 1916)12. Nguyễn Phúc Bửu Đảo – Khải Định (1916 – 1925)13. Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy – Bảo Đại (1925 – 1945)

Lịch sử Việt Nam Nam trong thời kỳ Pháp thuộc

1858 Quân Pháp chiếm đà Nẵng, đánh dấu sự đô hộ của Pháp ở đông Dương. Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi lãnh đạo1860 – 1887 Cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình định1884-1889 Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật ở Bãi Sậy1885-1895 Cuộc khởi nghĩa của Phan đình Phùng ở Nghệ Tĩnh1886-1887 Cuộc khởi nghĩa của đinh Công Tráng ở Thanh Hóa1887-1913 Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế1904-1908 Phong trào đông Du của Phan Bội Châu và phong trào đông Kinh của Phan Châu Trinh.Tháng 12/1927 Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học ở Yên Bái
Tháng 09/1940 Quân Nhật đến đông Dương
Tháng 09/1940 Khởi nghĩa Bắc Sơn
Tháng 10/1947 Chiến dịch Thu đông ở Việt Bắc
Mùa Thu-đông nãm 1950 Quân Pháp thất bại ở biên giới Việt – Trung

Lịch sử Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ

Chiến tranh biên giới 1975 — 1979

Cảm ơn bạn đã đọc bài viết Lịch Sử Việt Nam Qua Các Thời Kỳ, Lịch Sử Việt Nam Qua Các Thời Kỳ . Đừng quên truy cập Chaolong TV kênh trực tiếp bóng đá số 1 Việt Nam hiện nay để có những phút giây thư giãn cùng trái bóng tròn !

By Chaolong TV

Chaolong TV trang web xem livestream bóng đá trực tiếp miễn phí tất cả các giải đấu hàng đầu thế giới. Xem bóng đá trực tiếp tốc độ cao chất lượng 4k, không quảng cáo, bình luận tiếng việt.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *